Cơ sở ngữ văn Hán Nôm I. lythophuc. tuvidausoPHUGIAI.pdf. Van Duong. Tu Hoc Chu Phan - Siddham - Ch1 Chiết Tự Một Phương Pháp Học,Nhớ Chữ Hán Độc Đáo Của Người Việt - Nguyễn Thị Hường. Đồng Chí Võ Chí Công Và Khoán 100 - Phan Văn Trình. nvh92. Phá rào trong kinh tế vào đêm
Danh sách tất cả các bộ phim về Bao Thanh Thiên [List] Các ca khúc game thủ Audition không thể nào quên: Ghi chữ màu trong Võ Lâm Truyền Kỳ II: Tổng hợp bản đồ và NPC thu thập: Học Hán Nôm cơ bản: Hướng dẫn đấu dây jack 3.5mm 3 ngấn và 4 ngấn: Ruột bút chì có độc không?
Vậy là đến đây bài viết về Chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ và văn học viết tiếng Việt | Trần Đình Sử đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Truongxaydunghcm.edu.vn. Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!
- Một chữ Nôm được viết bằng một hay nhiều chữ Hán (hoặc thành phần của chữ Hán). - Người viết được chữ Nôm phải biết cả tiếng bình dân lẫn tiếng kinh điển. - Mục đích người viết chữ Nôm là làm sao diễn đạt ra tiếng bình dân từ các chữ Hán. - Người đọc được chữ Nôm cũng phải biết tiếng bình dân lẫn tiếng kinh điển.
GIEO VẦN trong HAI THỂ THƠ 6-8 và 7-7-6-8 [Trích VĂN HỌC CHỮ NÔM của Lê Văn Đặng] 0. Truyện Kiều, Vân Tiên, Phan Trần, v.v. soạn theo thể 6-8; Chinh Phụ Ngâm Diễn Âm, Cung Oán Ngâm Khúc, v.v. theo thể 7-7-6-8. Đây là hai thể thơ Nôm thuần túy Việt Nam về số chữ, số câu cũng như
. Trước khi tìm hiểu chữ Nôm, tìm hiểu sơ lược về chữ HánChữ Hán, hay Hán tự chữ Hán phồn thể 漢字, giản thể 汉字, Hán văn 漢文/汉文, chữ Trung Quốc là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc. Chữ Hán có nguồn gốc bản địa, sau đó du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt các quốc gia này, chữ Hán được vay mượn để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng nước. Tại Trung Quốc, trước thời nhà Tần, chữ Hán được gọi là văn 文 hoặc danh nhà Tần cho đến trước khi tên gọi Hán tự 漢字 chữ Hán trở nên phổ biến chữ Hán thường chỉ được gọi là văn 文, tự 字 hoặc văn tự 文字. Theo sách Thuyết văn giải tự 說文解字 do Hứa Thận biên soạn vào thời Đông Hán thì giữa văn 文 và tự 字 vốn là có sự phân công ý nghĩa, chứ không phải là hoàn toàn đồng nghĩa. Văn 文 là chỉ chữ tượng hình và chỉ sự, tự 字 là chỉ chữ hình thanh và hội ý. Về sau người ta không còn phân biệt văn 文 và tự 字 nữa, chữ viết dù thuộc loại gì cũng đều có thể gọi là văn 文 hoặc tự tên gọi dùng để chỉ chữ Hán đã nêu ở trên đều có nghĩa là chữ, chữ viết, chúng không phải là tên gọi chuyên chỉ chữ gọi Hán tự 漢字 xuất hiện sớm nhất là trong Kim sử, một bộ sách sử được biên soạn vào thời nhà Nguyên. Tuy nhiên khi đó Hán tự 漢字 không phải là một tên gọi phổ biến của chữ Hán. Chỉ cho đến thời cận đại tại Trung Quốc đại lục lịch sử Trung Quốc cận đại thường được tính là từ năm 1840 đến năm 1949 tên gọi Hán tự 漢字 mới dần dần được biết đến và sử dụng rộng dụ viết chữ Hán = chữ Nho, con Ngựa, viết 馬 phát âm là mã. Danh từ chữ nho được dùng để chỉ chữ Hán do người Việt dùng trong các văn bản ở Việt NômChữ có nghĩa là văn tự, Nôm có nghĩa là lời nói hay là Nam đối lập với Trung Quốc cả từ này có nghĩa là văn tự của lời nói hay văn tự của nước Nam, nó đối lập với văn tự chính thống chữ Nho = chữ Hán với ý nghĩa là văn tự của nhà Nôm thuộc loại hình văn tự khối vuông nghĩa là toàn bộ chữ được cấu tạo trong một ô vuông, được xây dựng trên cơ sở chất liệu là chữ Hán và được đọc theo âm dụ ChữNômviết 字 喃Viết theo chữ Hán còn gọi chữ Nho 國 音Viết theo chữ Quốc ngữ hiện nay Chữ NômHán ViệtTừ Hán-Việt là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếng Trung Quốc nhưng đọc theo âm Việt. Cùng với sự ra đời của chữ quốc ngữ, từ Hán-Việt ngày nay được ghi bằng ký tự thể bạn quan tâmKTM 2023 và 2022 có gì khác nhau?Mua cây Tùng La Hán giá bao nhiêuNAB 2023 có gì đặc biệt?Có bao nhiêu số tự nhiên gồm 4 chữ số đôi một khác nhau lập ra từ các chữ số 2;4 6;8Từ các chữ số 0 1 2 3 4 5 có thể lập được bao nhiêu số tự nhiên chia hết cho 5Điển hình bài thơ Hán ViệtSàng tiềnminhnguyệt quang,Nghi thị địa thượng đầu vọngminhnguyệt,Đê đầu tư cố ra tiếng Quốc NgữĐầu tường trăng sáng soi,Ngỡ là sương trên mặt đầu nhìn trăng sáng,Cúi đầu nhớ cố âm Pinyin tiếng TrungChuáng qián míng yuè guāngYí shì dìshàng shuāngJǔ tóu wàng míng yuèDītóu sī gùxiāngDịch ra tiếng AnhHead moon light,The mist is on the your head to look at the bright moon,Bow to dụ thêm 1 bài thơ nổi tiếng của Lý Thường Kiệt Nam Quốc Sơn HàViết theo tiếng Hán南國山河南 國 山 河 南 帝 居截 然 定 分 在 天 書如 何 逆 虜 來 侵 犯汝 等 行 看 取 敗 虛Phiên âm phát âm Hán-ViệtNam Quốc Sơn HàNam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên phận định tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại hưBản dịch của Trần Trọng Kim ra tiếng Quốc ngữSông núi nước NamSông núi nước Nam vua Nam ởRành rành định phận ở sách trờiCớ sao lũ giặc sang xâm phạmChúng bay sẽ bị đánh tơi thể nói, chiếm một góc trong vành đai văn hóa Hán nói trên là Việt Nam. Một mặt, Việt Nam ở vào vị trí giữa của vành đai văn hóa Đông Á, có hoàn cảnh rất giống Nhật Bản ở chỗ cùng là điểm mà nhiều dân tộc dừng chân lại. Mặt khác, trong điều kiện địa lý tiếp giáp với Trung Quốc rất chặt chẽ, trên lục địa, Việt Nam cũng có điểm khá giống với Triều Tiên. Một điều hiển nhiên nữa là Việt Nam cũng giống Triều Tiên, cả hai nước cùng chịu sự thống trị lâu dài về chính trị của Trung Quốc, và cùng nảy nở nền văn hóa độc lập. Nói về mặt ngôn ngữ, tiếng Nhật và tiếng Triều, khác với tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ mang tính đơn lập cao, chúng thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính ngôn ngữ Altai. Cả hai ngôn ngữ này đều khó tiếp thu sự đồng hoá ngôn ngữ một cách triệt để. Trong khi đó, tiếng Việt cùng loại hình ngôn ngữ với tiếng Trung Quốc, nguy cơ đồng hoá ngày có nét khác hơn. Lịch sử văn tự này có nét rất đặc trưng. Nó chịu sự chi phối của Trung Quốc vào năm 111 trước CN, trong vòng 840 năm, kể từ khi chữ Hán trở thành văn tự chính thức bắt đầu từ lúc có chế độ khoa cử 1075, cho đến khi không còn chế độ khoa cử vào năm 1915 miền Trung 1918, chữ Hán với tư cách là văn tự chính thức, Hán văn trở thành văn chương chính thức ở nước này. Tức là đối với trí thức Việt Nam, việc thông hiểu Hán văn tiếng Trung Quốc là điều kiện không thể thiếu được. Có thể nói đó là việc quan trọng hơn việc thông thạo tiếng mẹ đẻ. Và thế là biết chữ thực tế không có gì khác là biết chữ cầu ghi lại tiếng nói dân tộc Cũng giống như người Nhật, người Triều Tiên, trong một bộ phận tầng lớp trí thức này sinh nhu cầu muốn ghi lại tiếng nói dân tộc. Lúc này, người Việt cũng giống như người Nhật nảy sinh ý nghĩ thử ghi lại tiếng nói dân tộc bằng cách dùng chữ Hán vốn đã có bên cạnh mình và gia công thêm một chút. Đó là việc nảy sinh văn tự gọi là chữ Nôm xuất hiện ở Việt Nam khi chữ Hán đã vào Việt Nam và đã được hình thành một cách có hệ thống âm Hán Việt, nên ban đầu chữ Nôm thuần túy ghi âm Việt. Dần dần có những chữ Hán không ghi được âm Hán Việt cho nên các chữ Nôm sáng tạo được ra đời. Khi ý nguyện sáng tạo ra một dạng chữ riêng của người Việt trở nên mạnh mẽ hơn trong thời Lê, những chữ Nôm được tạo ra một cách có ý thức hơn đã giúp cho sự hình thành thêm nhiều chữ Nôm mới đủ để biểu đạt được tâm tư, nguyện vọng, tâm hồn và khí phách dân tộc trong các tác phẩm văn chương như thơ, phú, chiếu, cáo, biểu sáng tạo đó đã để lại cho đời sau những di sản thơ Nôm vô giá từ những bài thơ của Nguyễn Hàn Thuyên đến Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, từ Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông đến Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ Đại Nam quốc sử diễn ca đến Đoạn trường tân thanh; từ những bài thất ngôn bát cú thơ Nôm của Hồ Xuân Hương đến dạng song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, thơ lục bát với Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Rồi thơ của Nguyễn Khuyến, Tú Xương và không ít những tác phẩm Nôm khuyết danh như Thạch Sanh, Trê Cóc, Nhị độ mai, Tấm Cám, Lưu Bình Dương Lễ Nôm được dùng song song với chữ Hán cho đến thế kỷ 16, khi các nhà truyền đạo phương Tây vào Việt Nam, họ đã dùng ký tự Latinh để phiên âm tiếng Việt, và chữ Quốc ngữ bắt đầu ra đời. Chữ Quốc ngữ bằng kýtự La Tinh dần dần thay thế chữ Hán Nôm do sự đơn giản dễ nhớ dễ học, thêm nữa, chữ Quốc ngữ tỏ ra hữu dụng khi phiên âm được các dấu thanh trong tiếng Việt. Chữ Nôm còn được dùng cho tới cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nhưng ngày càng suy yếu trước sự bành trướng của chữ Quốc sản này hiện nay có nguy cơ tiêu vong. Sau khi chữ Quốc ngữ dùng mẫu tự Latinh phổ biến vào đầu thế kỷ 20, chữ Nôm dần dần mai một. Năm 1920, chính quyền thực dân Pháp ra lệnh cấm dùng chữ Nôm. Khi tiến trình Âu hóa ngày càng trở nên mạnh mẽ và được sự cổ súy của thủ lĩnh các phong trào duy tân đương thời, chữ Quốc ngữ đã trở nên phổ biến và khẳng định chỗ đứng của nó trong hệ thống văn tự mới của dân tộc theo mô hình phương Tây, thoát khỏi ảnh hưởng của phương Bắc. Đỉnh cao của chữ Quốc ngữ với Thơ mới và Tự lực văn đoàn đã trở thành sự cáo chung đối với văn tự truyền nay, ở Việt Nam và thế giới rất ít người còn đọc được văn bản chữ Nôm từ nguyên tác. Một phần quan trọng của lịch sử Việt Nam đã nằm ngoài tầm tay của 95 triệu người nói tiếng Quốc ngữ ra đời tuy đơn giản, dễ nhớ dễ học. Tuy nhiên, có nhiều từ Việt bị dùng sai, nhưng do dùng lâu quen và do đó từ sai trở thành từ đúng ví dụ khốn nạn. Và cũng chính vì việc từ khi sử dụng chữ Quốc ngữ không tiếp tục giảng dạy và học chữ Hán Nôm đã làm cho những thế hệ người Việt ngày nay không còn biết đến chữ Hán Nôm nữa, và không thể đọc được những tư liệu sách vở trong kho di sản Hán Nôm ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Chính vì điều đó mà ít có thế hệ người Việt sau này có thể hiểu rõ và dùng đúng tiếng Việt như nghĩa thật sự của nó vì khoảng 70% tiếng Việt được hình thành từ tiếng Hán-Việt.Chữ Nôm được đặt ra cũng còn để thỏa mãn nhu cầu quân sự và chính trị. Căn bản là chữ viết nhìn thì giống như chữ Hán nhưng phát âm và ý nghĩa thì hoàn toàn khác. Do đó khi Trung Quốc muốn tìm hiểu Việt Nam để mưu đồ xâm lăng, họ sẽ phải học thuần tiếng Nôm để thông thạo tình hình và đả thông các văn chung chữ Nôm thường có nhiều nét hơn, phức tạp hơn chữ Hán do phần lớn là những chữ buộc phải ghép 2 chữ Hán lại nên khó nhớ hơn cả chữ Hán vốn cũng đã khó nhớ. Cách đọc cũng có khi không thống nhất hoặc một chữ có thể có nhiều cách đọc, nên có người nói rằng "chữ Nôm phải vừa đọc vừa đoán". Ngoài ra, việc "tam sao thất bản" là khó tránh khỏi, phần vì trình độ người thợ khắc chữ ngày xưa, phần vì khâu in mộc bản có chất lượng không cao chữ bị nhòe, mất nét.Đó là những hạn chế của ông cha, với một lịch sử không thể thay đổi mà dân tộc ta phải chấp nhận, để lại xúc cảm ngậm ngùi cho mỗi con dân Việt khi nhìn sang tiến trình bản địa hóa một cách có chọn lọc văn tự của Trung Hoa của những quốc gia đồng văn như Nhật Bản, Triều Tiên, những quốc gia đã thành công trong việc giản hóa chữ Hán thành những ký hiệu biểu âm thuận tiện khi sử dụng hơn rất nhiều. Đặc biệt là Triều Tiên với hệ thống 23 ký tự hết sức khoa học và dễ sử dụng do Hoàng đế Sejong sáng tạo đủ sức biểu đạt tư duy ngôn ngữ của dân tộc hoàn toàn không cần phải sử dụng các thành tố chữ hợpTài liệu biên khảo 5Kinh Dương Vương vua của nước Xích QuỷAn Dương Vương Thục Phán nước Âu LạcTriệu Đà nước Nam Việt rộng lớn6 điều bí mật về phụ nữ thời La Mã cổ đại7 vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử7 điểm tộc Dayak giống người Việt cổ trên đảo Borneo316 Năm Vương Triều ĐẠI LÝ 22 Đời Vua Họ ĐOÀN900 Năm Triều Đại Nhà CHU Dài Nhất Lịch Sử TQ Giải Mã Qúa Trình Nhà TẦN Thôn Tính Nhà CHU1500 Năm Hình Nước ĐỨCAi Cập Cái nôi của nền văn minh nhân loạiAlexander Đại đế Có ước mơ trở thành một chiến binh anh hùngChuyện về Phạm Ngũ Lão và Mạc CửuChữ Nôm là gì? Chữ Hán. Hán ViệtDANH TƯỚNG VÕ TÁNHDanh sách các tướng lĩnh thời Hai Bà Trưng của nhà nước Lĩnh NamHồ Động Đình- hồ nước linh thiêng trong huyền sử Việt + Lưỡng Quảng ngày nayCuộc đời Mahatma GandhiCó phải tại Trung Quốc vẫn còn đền thờ Hai Bà Trưng và quân tướng Lĩnh Nam ?Bách Việt là ai ? Hán & Bách ViệtDiện tích nước Việt cổ xưa rộng như thế nào? Lịch sử Việt NamDanh tướng Trần Khát ChânDương Diên Nghệ 874 937Dân tộc Mãn ChâuHịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Áng văn bất hủHồ Động Đình- hồ nước linh thiêng trong huyền sử ViệtHùng ca sử Việt-Lý thường KiệtHùng Ca Sử Việt Quang Trung và Vùng Đất Lưỡng QuảngHoàng hậu Theodora, phụ nữ quyền lực bậc nhấtGiải mã bí ẩn Lăng vua Tự Đức công trình Lăng Tẩm đẹp nhất xứ HuếKhảo sát Tiếng Việt quyến rũ thứ nhì châu ÁKhám phá Nhật Bản và 7 thời kỳ Nhật BảnKhởi nghĩa Lam Sơn Lê Lợi Chống quân Tàu nhà MinhLịch Sử 13 Triều Vua Nhà THANH 276 Năm Thịnh Suy Trong Lịch Sử Trung QuốcLịch sử Iran lịch sử Ba TưLịch sử SingaporeLịch sử Hong KongLịch sử Hàn QuốcLịch sử Nhật Bản & 8 VIDEOS Lịch sử Thái LanLịch sử Đài LoanLỊCH SỬ PHI LUẬT TÂNLịch Sử Campuchia Cao Miên Quốc 2000 Năm Lịch SửLý do suy sụp của siêu đô thị cổ đại AngkorNhân Tông Trần Khâm Đức Phật giữa hoàng triềuMạnh Thường QuânMông Cổ MongoliaMai Hắc Đế Mai Thúc LoanNguồn gốc chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ là công trình sáng tạo của cả một tập thểNgười Kinh ở Trung QuốcNguyên nhân dẫn tới Chiến tranh thế giới lần thứ nhấtPhùng Hưng 761-802Sau ngàn năm Bắc thuộc, tại sao Việt Nam không bị nhập vào Trung Quốc?Thế giới hiện nay có tổng cộng 204 quốc gia. Top 10 quân đội mạnh nhất thế giớiTiếng Quan Thoại Mandarin và tiếng Quảng Đông Cantonese được nói ở đâu?Tại sao có quốc gia nghèo, quốc gia giàu? Nước giàu, nước nghèo?Tổng Thống Đầu Tiên Của Hoa Kỳ George WashingtonTóm tắt nhanh lịch sử các triều đại Trung QuốcTrận đánh lớn nhất của Thành Cát Tư Hãn. Nhà Kim. Đại Liệu Khiết Đan bị diệt vongTRƯƠNG MINH GIẢNG ?-1841 TỔNG ĐỐC THỨ HAI TỈNH AN GIANGTứ Đại Mỹ Nhân Việt Nam Công chúa Huyền Trân, An Tư, Ngọc Hân và Lý Chiêu HoàngThiên Ninh Công Chúa Đóa Huyết Hoa Nhà TrầnThuyết Minh Việt Ngữ Phát biểu của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tại nhà máy Whirlpool, tiểu bang OhioViệt Nam không hề đánh chiếm Thủy Chân LạpTài liệu biên khảo 2Quốc khánh Hoa Kỳ Vì sao xã hội Mỹ không hoàn hảo nhưng luôn tốt hơn?Những giá trị Mỹ và cộng đồng gốc Việt10 sự thật về Hy Lạp cổ đạiFukuzawa Yukichi với khuyến học thời 1834 1901TN InfoWay Xa Lộ Thời NayHome Trang Shopping NetworkHotel Reservations Find The Best Hotel DealsBusiness NewsGiải tríLƯU DIỆU VÂN Poet, Translator, and EditorÂm nhạcÂm nhạc Thơ nhạc Hồng ThúyDu lịch thế giới Khám pháChuyện lạ Bạn đọc biếtCuộc sống khắp nơi Chia sẻHình ảnhĐời sốngHọc tiếng Anh mỗi ngàyTập thể thao hàng ngày Thân hình đẹp và khỏe AerobicsDanh ngôn Lời hay ý đẹpGia chánhKinh tế Quản trị Khởi nghiệpLàm đẹpTình yêu Hôn nhân Gia đình
Ngoài văn hoá dân gian truyền miệng còn có dòng văn học chữ viết, lúc đầu là chữ Hán, sau chữ Nôm rồi đến chữ Quốc ngữ như ngày nay. Dòng văn học này trải qua nhiều thời kì. Những văn bản sớm nhất hiện tìm thấy có từ thế kỉ thứ X, tạm chia làm hai giai đoạn Từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XIX Từ đầu thế kỉ XX đến này. Bạn đang xem Các tác phẩm văn học chữ hán Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Trong giai đoạn này, văn học thành văn được viết bằng hai thứ chữ chữ Hán và chữ Nôm. Mặc dù trải qua một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt Nam không bị đồng hoá mà dần dần hình thành bản sắc dân tộc riêng biệt. Chữ Nôm xuất hiện từ rất sớm nhưng từ thế kỉ XVI trở đi văn học chữ Nôm mới thịnh hành và đến thế kỉ XVIII thì văn học chữ Nôm chiếm một vị trí rất lớn. Sự phát triển về ý thức dân tộc đã tạo điều kiện cho văn học chữ Nôm ngày càng phát triển. Văn học chữ viết hình thành và phát triển Trong nhiều thế kỉ, văn học chữ Hán chiếm vị trí chủ yếu trừ một vài trường hợp như triều Hồ Quý Ly và Quang Trung coi trọng chữ Nôm, tuy sử dụng chữ Hán nhưng các tác phẩm văn học ấy vẫn thấm đượm tính cách và tâm hồn Việt Nam như bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, những bài thơ ca ngợi chiến thắng của quân dân nhà Trần của Phạm Ngũ. Lão, Trần Quang Khải, Phạm Sư Mạnh, Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi, vv. Tiếp đến là những bộ sử dược viết với một ý thức dân tộc mạnh mẽ Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, w. Thế kỉ XV, văn học chữ Hán vẫn chiếm ưu thế. Tuy vậy văn học chữ Nôm vẫn không ngừng phát triển. Nguyễn Trãi là người nêu cao tiếng Việt và vận dụng chữ Nôm vào sáng tác văn học. Tập thơ Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi trong thời kì này là một trong những tập thơ Nôm xưa nhất có giá trị đến ngày nay. Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, văn học chữ Nôm phát triển rực rỡ chiếm ưu thế hoàn toàn trên văn đàn. Những nhà thơ lớn đã khai thác triệt để ngôn ngữ của dân tộc, nhiều tác phẩm tiêu biểu ra đời Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, w, Từ đầu thế kỉ XX đến nay. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các tác phẩm văn học bằng chữ Quổe ngữ dần dần xuất hiện. Nền văn học Việt Nam hiện nay không chỉ tiếp thu và chịu ảnh hưởng của nền văn học Trung Quốc mà còn tiếp thu cả nền văn học phương Tây đặc biệt là văn học Pháp, đã đưa nền văn học Việt Nam phong phú hơn và đa dạng hơn về thể loại. Văn học Việt Nam dần dần đã tách khỏi phong cách cổ điển với những điển tích nặng nề, linh hoạt hơn, chính xác hơn và gần với ngôn ngữ hàng ngày hơn. Năm 1925, những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam ra đời Tố Tàm của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật. Phong trào thơ mới được coi là “một cuộc cách mạng” trong thơ ca, những quy tắc gò bó, lối diễn đạt ước lệ, công thức bị phá bỏ, cảm xúc được diễn tả tự nhiên, cởi mở hơn, lãng mạn hơn. Trong phong trào thơ mới xuất hiện nhiều nhà thơ tài năng Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tản Đà, w. Về Văn học lãng mạn nổi lên có nhóm Tự lực văn đoàn được thành lập năm 1932 gồm Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam và một số nhà văn trẻ, w. Dòng văn học này tuy có nhiều tiến bộ trong sáng tác nhưng không tránh khỏi những hạn chế về mặt tư tưởng. Bên cạnh trào lưu văn học lãng mạn phải kể đến dòng Văn học hiện thực phê phán. Các sáng tác của trào lưu văn học này có tính chân thực cao và thăm đượm tinh thần nhẫn dạo. Trào lưu này đã cho ra dời những tác phẩrn thật sự xuất sắc cả về nội dung và hình thức như Bước dường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tẩt Tố, Vỡ đê, Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Bi vò của Nguyễn Hồng, Chí Phèo của Nam Cao, w. Cùng với hai trào lưu trên còn có trào lưu Văn học cách mạng nhưng không được lưu hành hợp pháp tuy có lúc được lưu hành hợp pháp. Trào lưu văn học này gồm những thơ văn của các chiến sĩ cách mạng ở trong tù và những tác phẩm được xuất bản trên báo chí nước ngoài. Những tác giả tiêu biểu cho trào lưu này là Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thuỷ, vv. Cuộc cách mạng tháng Tám thành công, nền Văn học hiện đại được phát triển mạnh mẽ. Những tác phẩm ra đời trong thời kì này như những mốc son đánh dấu từng giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Các tác phẩm Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ của Võ Huy Tầm, Xung Kích của Nguyễn Đình Thi, Tuỳ bút của Nguyễn Tuân, w. là thành quả của nền văn học trong những năm kháng chiến chống Pháp. Cuộc kháng chiến chống Mĩ kéo dài 21 năm, nhiều tác phấm văn học nổi tiếng đã ra đời, phản ánh cuộc đấu tranh vô cùng anh dũng của đồng bào và chiến sĩ cả nước như Hòn đất của Anh Đức, Gia đình má Bẩy, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Trên đất Quảng, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi. Và các tác phẩm thơ Quê hương của Giang Nam, Dáng dứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, Bài ca Chim Chơ-rao của Thu Bồn, Gió Lào cát trắng của Xuân Quỳnh, w. Hiện nay các nhà văn, nhà thơ đang có gắng đưa văn học Việt Nam sang một giai đoạn mới, góp phần xây dựng một nước Việt Nam đi lên trong hoà bình và ổn định. Nguồn
Khái lược Về Văn học Chữ Nôm Ở Việt Nam Ngay từ đầu Công nguyên cho đến suốt 1000 năm Bắc thuộc sau đó, các dân tộc trên đất nước Việt Nam đã sống trong quá trình cộng cư với nhau và cả với người Hán từ phương Bắc đến. Trải qua quá trình cộng cư này cùng với sự tiếp xúc với chữ Hán và văn hóa Hán, các dân tộc Việt Nam đã dần dần chủ động sử dụng chữ Hán trước hết là trong hành chính và trong giáo dục, rồi cả trong sáng tác văn học, hình thành một nền văn học chữ Hán của chính dân tộc mình. Và từ khi thoát li khỏi sự đô hộ trực tiếp của phong kiến phương Bắc, thì bên cạnh chữ Hán vẫn tiếp tục được coi trọng, người dân bản địa Việt Nam còn sáng tạo ra chữ viết cho bản ngữ của mình. Đó là các hệ thống chữ viết ô vuông theo hình mẫu chữ Hán, được gọi là chữ Nôm Người Kinh tộc người Việt có chữ Nôm Việt, người Tày có chữ Nôm Tày, Với chữ Nôm Việt, ở Việt Nam đã hình thành nên một nền văn chương chữ Nôm bên cạnh văn chương chữ Hán. Và chính trong lĩnh vực sáng tạo văn học, chữ Nôm gắn liền với ngôn ngữ dân tộc đã tạo nên những tác phẩm có giá trị, chiếm những vị trí cao nhất trong văn học cổ điển Việt Nam. Xin trình bày đôi nét khái quát về những chặng đường hình thành các thể thức và thể loại cùng với những tác giả và tác phẩm tiêu biểu của nền văn học chữ Nôm tiếng Việt. 1. THỜI KỲ SƠ KHAI Theo quốc sử Việt Nam thì từ thế kỷ XIII dưới thời nhà Trần, ở Đại Việt đã có nhiều người làm thơ phú bằng chữ Nôm, đặc biệt có Nguyễn Thuyên và Nguyễn Sĩ Cố, song tác phẩm của họ đều đã thất truyền từ lâu. Nguyễn Thuyên 阮 詮 không rõ năm sinh năm mất. Đỗ Thái học sinh Tiến sĩ năm 1247, thời Trần Nhân Tông 陳仁宗 1279-1293. Thượng thư bộ Hình. Năm 1282, có cá sấu vào sông Phú Lương. Vâng mệnh triều đình, ông lập đàn tế và làm bài văn tế bằng chữ Nôm ném xuống sông, cá sấu liền bỏ đi. “Vua cho rằng việc làm này giống như Hàn Dũ 翰愈, nên cho Nguyễn Thuyên đổi thành họ Hàn” Đại Việt sử kí toàn thư. Theo sử sách và gia phả họ Nguyễn ở Cao Bằng, thì Nguyễn Thuyên là người đầu tiên dùng chữ Nôm để chép gia phả họ Nguyễn, viết quốc sử và làm thơ phú quốc âm. Tác phẩm Phi sa tập 披沙集 của ông gồm nhiều bài thơ phú chữ Hán và cả chữ Nôm. Nhưng tất cả đều thất truyền. Tương truyền thơ chữ Nôm của Hàn Thuyên mở đầu cho việc kết hợp thơ ca dân gian người Việt với thể thức thơ Đường có biến đổi về số chữ và niêm luật để có một thể thơ mà người đời sau gọi là thể thơ “Hàn luật”. Gần như cùng thời với Nguyễn Thuyên, có Nguyễn sĩ Cố 阮 士 故 ? – 1312. Ông lãnh chức Nội thị Học sĩ, tức thầy dạy hoàng tử mà sau này là vua Trần Nhân Tông. Ông nổi tiếng đương thời về tài làm thơ Nôm, nhưng tác phẩm cũng đều thất truyền. Tương truyền thơ ông có ý vị trào lộng, gần giống với Đông Phương Sóc 東 方 朔 đời Hán. Trần Khâm 陳欽 1258 – 1308 tức Trần Nhân Tông, vua thứ ba nhà Trần. Cùng vua cha thực hiện đại đoàn kết hoàng tộc và dân chúng, đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông 1285, 1287-88. Từ sau 1299 ông rời Kinh đô, làng mạc, lên ở hẳn núi Yên Tử, dựng chùa tu Phật, lập ra dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử mà ông là tổ thứ nhất. Trần Nhân Tông viết nhiều tác phẩm thiền học và thơ Thiền bằng Hán văn. Tác phẩm viết bằng chữ Nôm còn lại đến nay có một bài phú và một bài ca. Đó là bài Cư trần lạc đạo phú 居 陳 樂 道 賦 và bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca 得 趣 林 泉 成 道 歌 . Cả hai bài này đều do người đời sau cho vào tập Thiền tông bản hạnh 禪 宗 本 行 , khắc ván in lần đầu vào năm Cảnh Hưng 6 1745. Đó là những bài ca ngợi cảnh thiền và lòng thiền, trong đó con người an nhiên tự tại, sống giữa đời trần mà cũng hòa vui trong đạo. Lý Đạo Tái 李道載 1254 – 1334 tức là sư Huyền Quang, tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, cùng thời với Trần Nhân Tông. Ông cũng là người viết nhiều tác phẩm về thiền học, và cả thơ chữ Hán. Trong tập Thiền tông bản hạnh nói trên có bài Vịnh Hoa Yên tự phú 詠 華 煙 寺 賦 viết bằng chữ Nôm, là do ông sáng tác. Mạc Đĩnh Chi 莫 挺 芝 1272 – 1346. Ông quê ở Hải Dương, năm 1304 đỗ Trạng nguyên, làm quan dưới triều Trần Anh Tông và Trần Hiển Tông. Sau khi về hưu, mở trường dạy học. Nhà nghèo, nhưng sống thanh liêm, có khí tiết. Ông từng đi sứ phương Bắc, có tài ứng đối và biện luận. Mạc Đĩnh Chi sáng tác nhiều bằng Hán văn, nhưng chỉ còn lại bài phú Ngọc tỉnh liên phú 玉 井 蓮 賦 và bốn bài thơ chữ Hán. Riêng về văn thơ chữ Nôm, ông được coi là tác giả bài Giáo tử phú 教 子 賦 gồm 204 câu, mối câu 4 chữ, được khắc ván in cùng với tác phẩm của vua Trần Nhân Tông và sư Huyền Quang trong tập Thiền tông bản hạnh đã nói ở trên. Chu Văn An 朱 文 安 ? – 1370 đỗ Thái học sinh Tiến sĩ nhưng không làm quan, mở trường dạy học. Những năm 1314 – 1329 được mời về Thăng Long giữ chức Tư nghiệp trường Quốc tử giám. Ông nổi tiếng với Thất trảm sớ 七 斬 疏 chữ Hán đòi chém bảy tên gian thần. Riêng về thơ chữ Nôm ông có Tiều ẩn quốc ngữ thi tập 樵 隱 國 語 詩 集, nhưng nay đã thất truyền. Hồ Quý Ly 胡季 釐 1336 – 1407? là vua đầu tiên triều nhà Hồ, một triều đại ngắn ngủi ở Việt Nam. Ông lên ngôi từ ngai vua nhà Trần năm 1400. Năm 1406, không chống cự nổi quân nhà Minh, cả ba cha con ông bị giặc bắt đưa về Trung Hoa, rồi sau mất ở đó. Hồ Quý Ly là ông vua có tinh thần cải cách táo bạo, cả về quân sự, kinh tế và văn hóa tư tưởng. Nhưng ông vấp phải sự chống đối của phái bảo thủ, không thu phục được nhân tâm, nên dễ thất bại. Riêng về mặt ngôn ngữ văn tự, Hồ Quý Ly là ông vua đầu tiên nêu chủ trương dùng chữ Nôm tiếng Việt thay chữ Hán trong công văn, chiếu chỉ, và cho dịch kinh sách chữ Hán sang chữ Nôm. Chủ trương này về sau, vào cuối thế kỷ XVIII, vua Quang Trung 光 中 Nguyễn Huệ 阮 惠, 1753 – 1792 cũng lại đề ra, song đều chưa kịp thực hiện. Bản thân Hồ Quý Ly cũng trước thuật bằng chữ Hán và sáng tác thơ văn chữ Nôm. Nhưng tất cả đều bị nhà Minh tiêu hủy. Sau này, khi thoát khỏi ách thống trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi đã thu thập lại được 30 bài thơ chữ Nôm của ông, nhưng rồi đến lượt Nguyễn Trãi bị nạn, tất cả đều đã thất lạc. Như vậy, trong suốt hai thế kỷ XIII và XIV, là thời kỳ mở đầu cho nền văn học chữ Nôm, đến nay chỉ còn lại 4 tác phẩm 1 bài ca và 1 bài phú của Trần Nhân Tông, 1 bài phú của Huyền Quang và 1 bài phú của Mạc Đĩnh Chi. 2. THƠ NÔM “HÀN LUẬT” Thơ Nôm “Hàn luật” cải biến từ hai thể “thất ngôn tứ tuyệt” và “thất ngôn bát cú” của thể thức thơ Đường đã xuất hiện từ thời sơ khai, có thể bắt đầu từ Hàn Thuyên. Song ngày nay chỉ có thể nhận diện thể thơ này qua các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và hội thơ Tao Đàn, và sau đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Trãi 阮 廌 1380 – 1442hiệu là Ức Trai 抑齋 thi đỗ Thái học sinh Tiến sĩ năm 1400 ngay sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi, và được giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Khi giặc Minh xâm chiếm, ông bị quản thúc ở Thăng Long, sau thoát ra, lẩn tránh nhiều nơi, cuối cùng đến với Lê Lợi 黎 利, vạch chiến lược chống quân Minh trên chiến trường cũng như trong giao dịch thư từ. Sau thắng lợi, ông thay minh chủ viết bài Bình Ngô đại cáo 平 吳 大 告 bằng Hán văn, một bản “thiên cổ hùng văn” của dân tộc Việt Nam. Dưới triều Lê Thái Tổ 黎 太 祖 Lê Lợi, Nguyễn Trãi được trọng dụng. Nhưng sau khi Lê Lợi mất, triều đình lục đục, gây bè kéo cánh, khiến Nguyễn Trãi khó bề được yên thân. Ông bèn xin về hưu trí ở Côn Sơn. Cuối năm 1442, vua trẻ Thái Tông ghé thăm trại Lệ Chi Viên của ông, đột nhiên bị cảm chết, ông cùng cả gia tộc liền bị khép tội và chịu án “tru di tam tộc”. Mãi 20 năm sau, mới được vua Lê Thánh Tông xuống chiếu rửa oan cho ông. Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam, được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới. Ông có một sự nghiệp trước tác đồ sộ, về nhiều lãnh vực. Ông làm nhiều thơ, bằng Hán văn và cả bằng chữ Nôm. Sau khi ông bị hại, tác phẩm của ông bị thất tán nhiều nơi. Đến năm 1467, vua Lê Thánh Tông cử người Trần Khắc Kiệm 陳 克 儉 sưu tầm di cảo của ông, nhờ đó mới giữ một phần những tác phẩm quý giá của ông. Dựa vào kết quả sưu tầm của Trần Khắc Kiệm ở thế kỷ XV, Dương Bá Cung 楊 伯 恭 ở thế kỷ XIX đã bỏ ra hàng chục năm tiếp tục sưu tầm, chỉnh lý để đến năm 1868 cho khắc in bộ Ức Trai di tập 抑 齋 遺 集 trong đó có Quốc âm thi tập 國 音 詩 集 gồm 254 bài thơ Nôm. Có thể tập thơ này vẫn chưa phải là toàn bộ những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi, nhưng đây chính là tập thơ chữ Nôm đầu tiên còn lại đến ngày nay, và nó chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong văn học sử Việt Nam. Thơ Nôm Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu tha thiết của ông dành cho nước cho dân với tinh thần nhân nghĩa sâu sắc, đồng thời cũng có cả nỗi thao thức dằn vặt từ cảnh ngộ riêng tư, một cái tôi trữ tình mang màu sắc của cả Nho, Phật và Lão. Tiếng Việt trong thơ giàu hình tượng, ngữ liệu dân gian được sử dụng thích đáng. Hình thức thơ tuy phỏng theo cách luật thơ Đường, nhưng có nhiều biến cải Trong một bài tứ tuyệt hay bát cú, nhiều khi dùng xen những câu 6 tiếng, ở những vị trí không cố định. Nhịp thơ Đường thường ngắt theo kiểu 4-3, còn ở đây có cả cách ngắt nhịp 3-4, 3-3, một lối ngắt nhịp phổ biến của thi ca dân gian người Việt. Đây phải chăng chính là lối thơ “Hàn luật” mà Nguyễn Thuyên là người khởi xướng. Để minh họa cho thể thơ này, xin trích lục một bài thơ tứ tuyệt của Nguyễn Trãi 蓮 花 Liên hoa Hoa sen 淋 洳 拯 变 /卒 和 清 Lầm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh 君 子 困 堪/ 特 所名 Quân tử khôn kham được thửa danh 闧 媫 香 / 店 月 凈 Gió đưa hương, đêm nguyệt tạnh 貞 乄 晫 / 固 埃 爭 Riêng làm của, có ai tranh Hồng Đức quốc âm thi tập 洪德國音詩集. Đây là một tuyển tập thơ Nôm đầu tiên ở Việt Nam, gồm sáng tác của nhà vua đương thời là Lê Thánh Tông 黎 聖 宗 Lê Tư Thành 黎 思 成 , 1442 – 1497 và một số triều thần được gọi là “Hội Tao Đàn”, là kết quả của phong trào sáng tác thơ Nôm ở cung đình do nhà vua khởi xướng. Tập thơ sao chép nhiều lần, theo bản hiện còn gồm 283 bài, không ghi rõ tác giả từng bài, trong đó có lẫn một số bài của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Toàn tập thơ viết theo thể Đường luật thất ngôn bát cú, nhưng cũng có bài pha “lục ngôn” theo kiểu “Hàn luật” của Việt Nam. Nội dung nặng về những đề tài “cao quý”, vịnh người vịnh cảnh, thấm đậm tư tưởng Nho gia. Tuy nhiên, đây là thời thái bình thịnh trị, nên tập thơ cũng toát lên niềm lạc quan, tự hào dân tộc và thiện chí trau giồi ngôn ngữ dân tộc của vua tôi nhà Lê. Nguyễn Bỉnh Khiêm 阮 秉 謙 1491 – 1585 sống chủ yếu vào thế kỷ XVI. Ông thi đỗ Trạng nguyên năm 1535 và làm quan với nhà Mạc. Ông chán ghét bọn gian thần, dâng sớ xin chém lộng thần, nhưng vua không nghe. Ông thác bệnh về quê. Nhưng sau vì hoàn cảnh bó buộc, ông lại ra làm quan cho đến năm 70 tuổi mới thực sự từ quan. Ông dựng am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, ngồi dạy học trò. Ông là người được cả ba thế lực Mạc, Trịnh, Nguyễn thời bấy giờ tôn trọng, thường đến hỏi về những việc hệ trọng. Nguyễn Bỉnh Khiêm có làm thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm. Về thơ Nôm, ông còn để lại tập Bạch Vân quốc ngữ thi 白 雲 國 語 詩. Tuy nhiên, nguyên cảo thất lạc, các bản sao không thống nhất, lại lẫn lộn một số bài của Nguyễn Trãi, trong đó có khoảng 170 bài là thực sự của ông. Thơ quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ yếu theo thể cách Đường luật, đôi khi pha những câu “lục ngôn”. Đây có thể là những bài thơ Nôm Đường luật cuối cùng có xen lẫn câu thơ lục ngôn với lối ngắt nhịp 3-4. Về sau này có rất nhiều nhà thơ viết theo thể Đường luật đã không tiếp tục sử dụng các câu lục ngôn như thế nữa, trừ một số bài tương truyền là của nữ sĩ Hồ Xuân Hương [xem dưới]. Tập thơ viết khi tác giả ở ẩn nên bao trùm không khí an nhàn ẩn dật, yêu quý thiên nhiên, xa lánh bụi đời, tuy không dứt lòng thương nước lo đời, quan tâm thế sự. 3. DIỄN CA LỊCH SỬ “Diễn ca lịch sử” là những tác phẩm thơ Nôm trường thiên, mà phần lớn nội dung đều dựa vào quốc sử cùng với truyền thuyết dân gian. Diễn ca lịch sử sử dụng hai thể thơ dân tộc Một là thể “lục bát” mỗi khổ hai câu 6 – 8 tiếng với những tác phẩm tiêu biểu như Việt sử diễn âm, Thiên Nam ngữ lục, Đại Nam quốc sử diễn ca. Hai là thể “song thất lục bát” mỗi khổ bốn câu 7 – 7 – 6 – 8 tiếng, các câu “thất ngôn” đều ngắt nhịp 3 – 4, với tác phẩm tiêu biểu là Thiên Nam minh giám. Việt sử diễn âm 越 史 演 音. Tác phẩm gồm câu dòng, trong đó có câu theo thể “lục bát”, còn lại là những câu thất ngôn xen vào ở phần cuối. Chưa rõ tác giả là ai, nhưng lời thơ cho thấy tác giả đã sống và viết tác phẩm này vào khoảng giữa thế kỷ XVI, dưới thời nhà Mạc. Nội dung tác phẩm là kể lại lịch sử Việt Nam qua các triều đại từ thời sơ thủy đến thời nhà Mạc, qua đó thể hiện cảm xúc của mình đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử. Điều đáng lưu ý là với tác phẩm này, lần đầu tiên xuất hiện thể loại diễn ca lịch sử, một thể loại cực kỳ quan trọng trong văn học chữ Nôm, được phát triển mạnh mẽ vào những thế kỷ sau đó. Đây có thể cũng là lần đầu tiên có một tác phẩm chữ Nôm dài hơi viết theo thể “lục bát”, một thể thơ thuần túy của dân tộc Việt Nam. Thiên Nam minh giám 天 南 明 監. Hiện chưa rõ tác giả là ai, có thể là do một nhà Nho trong tôn thất chúa Trịnh vâng mệnh phủ chúa mà viết. Tác phẩm hoàn thành vào khoảng giữa thế kỷ XVII. Cũng là một tác phẩm diễn ca lịch sử Việt Nam, nhưng viết theo thể thơ Việt “song thất lục bát”, dài hơn 938 câu. Đây là lần đầu tiên có một tác phẩm chữ Nôm dài hơi viết bằng thể “song thất lục bát”.Với thể loại diễn ca lịch sử thì tác phẩm này dường như là duy nhất hiện có được viết theo thể thơ này. Nội dung tác phẩm chú yếu nêu gương anh hùng nghĩa sĩ nước Nam, thiên về phẩm bình nhân vật lịch sử. Thiên Nam ngữ lục 天 南 語 錄. Chưa rõ tác giả là ai, có thể là một nhà Nho, nhiều lần thi hỏng, sống ngao du ẩn dật. Về già mới viết sách này theo yêu cầu của chúa Trịnh, nhưng sau rồi cũng không dâng lên chúa, giữ lại làm của báu gia đình. Tác phẩm hoàn thành vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Hiện có 6 dị bản, trong đó bản chép tay đầu thế kỷ XVIII mang ký hiệu là cổ nhất và đầy đủ hơn cả. Cũng như Việt sử diễn âm thời nhà Mạc trước đây vào thế kỷ XVI hoặc Đại Nam quốc sử diễn ca 大 南 國 史 演 歌 sau này ở thế kỷ XIX 1870, Thiên Nam ngữ lục thuộc loại diễn ca lịch sử, viết theo thể “lục bát”. Nhưng đây là tác phẩm thành công nhất về nhiều phương diện, đặc biệt là ngôn ngữ văn học tiếp cận với lời nói dân gian, giàu hình tượng và cảm xúc với khối lượng phong phú các thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt. Điều quan trọng cần đặc biệt lưu ý là Thiên Nam ngữ lục là tác phẩm lục bát văn vần nói chung có độ dài lớn nhất trong văn học Việt Nam. Tác phẩm gồm câu thơ “lục bát”, kèm theo 2 bài thơ Nôm thất ngôn bát cú và 31 bài vừa thơ vừa sấm ngữ bằng chữ Hán. Có thể nói đây là lần đầu tiên thể thơ “lục bát” được thử thách trong một tác phẩm thi ca trường thiên, chứng minh cho khả năng biểu đạt vô tận của thể thơ, chuẩn bị cho nó tiến tới hoàn thiện thêm trong hàng loạt truyện thơ Nôm trường thiên ở những thế kỷ sau. Đại Nam quốc sử diễn ca 大 南 國 史 演 歌 hiện được biết đến là một tác phẩm diễn ca lịch sử viết theo thể lục bát, mà tiền thân của nó có thể là tập Sử ký quốc ngữ ca 史 記 國 語 歌 của một tác giả khuyết danh, được nộp vào Viện Tập hiền của nhà Nguyễn. Tập sử ca này đã được Lê Ngô Cát 吳 黎 吉 quê Hà Tây, không rõ năm sinh năm mất, đỗ Cử nhân năm 1848 thời Tự Đức, làm quan ở Quốc sử quán sửa chữa, bổ sung, làm thành tác phẩm mới dài câu lục bát. Đến khi Phạm Đình Toái 範 廷 碎 quê Nghệ An, không rõ năm sinh năm mất, đỗ Cử nhân năm 1843 thời Thiệu Trị, làm quan đến Hồng Lô tự khanh đọc lại, cắt bỏ nhiều đoạn rườm rà, bổ sung những chỗ thiếu sót và sắp xếp lại, làm thành bản mới, gọn hơn, gồm câu lục bát, đặt tên là Đại Nam quốc sử diễn ca, được khắc ván năm 1870. Tác phẩm này được soạn theo lệnh của vua Tự Đức, nên trong đó có không ít thiên kiến của nhà Nguyễn đối đối với các nhân vật và sự kiện lịch sử trước mình, nhất là với triều Tây Sơn . Tuy nhiên, những trang viết về thời Hồng Bàng, thời Hai Bà Trưng, về các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, quân Minh đã gây được không khí hào hùng, mang đậm tinh thần tự hào dân tộc. 4. NGÂM KHÚC THỂ NGÂM “Ngâm khúc” là một thể loại thơ Nôm trường thiên. Đó là những tác phẩm trữ tình dài hơi, chuyên sử dụng thể thơ “song thất lục bát” để phô diễn tình cảnh và tâm tư của nhân vật trữ tình. Có 2 tác phẩm tiêu biểu cho thể loại này là Chinh phụ ngâm khúc và Cung oán ngâm khúc. Ngoài ra còn có Ai tư vãn 哀思 輓, gồm 164 câu song thất lục bát, là tiếng khóc và lời thở than của công chúa Lê Ngọc Hân 黎 玉 昕 1770 – 1799, vợ vua Quang Trung, sau cái chết đột ngột của nhà vua; Tự tình khúc 敘 情 曲 của Cao Bá Nhạ 高 伯 迓 thế kỷ XIX gồm 608 câu song thất lục bát, là lời kêu than của tác giả trong thời gian bị cầm tù vì liên quan với vụ án của chú mình là Cao Bá Quát 高 伯 适 1808 – 1885. Chinh phụ ngâm khúc 征 妇 吟 曲. Nguyên tác Hán văn của nhà thơ Việt Nam Đặng Trần Côn 鄧 陳 琨, thế kỷ XVIII, dài 438 câu theo thể “trường đoản cú”, xuất hiện năm 1741. Liền ngay sau đó lần lượt có 4 bản dịch sang thơ Nôm. Bản dịch thành công nhất được lưu hành rộng rãi, theo ván khắc năm 1902, gồm 412 câu thơ, thể “song thất lục bát”. Bản này tương truyền là do bà Đoàn Thị Điểm 段 氏 點 , 1705 – 1748 chuyển dịch. Song gần đây có nhiều người nghiêng về phía khẳng định Phan Huy Ích 潘 輝 益, 1750 – 1822 mới là dịch giả của bản hiện đang lưu hành. Chinh phụ ngâm là một lời độc thoại nội tâm mà nhân vật trữ tình duy nhất trong tác phẩm là một người vợ có chồng gặp thời loạn phải ra đi chinh chiến. Lý tưởng lập công danh không ngăn được nỗi niềm cô quạnh và ước mong được sống hạnh phúc cùng chồng nơi quê nhà. Đây có thể là tác phẩm ngâm khúc đầu tiên mà thành công của nó chứng minh cho khả năng của thể “song thất lục bát” trong việc phô diễn những cảnh tượng bi tráng và tâm trạng sầu muộn triền miên của nhân vật trữ tình. Để minh họa cho thể thơ này, xin trích một khổ thơ mở đầu tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc theo bản khắc năm 1902 糓 俼 坦 常 欺 陿 桙 Nhẽ trời đất thường khi gió bụi 客 牤 紅 蜫 餒 迍 邅 Khách má hồng nhiều nỗi truân chiên 籑 箕 深 瀋 層 珕 Xanh kia thăm thẳm tầng trên 為 埃 蔐 孕 朱 戼 餒 尼 Vì ai gây dựng cho nên nỗi này Nguyên tác Hán văn của Đặng Trần Côn 天 地 風 塵 .紅 顏 多 迍 Thiên địa phong trần, hồng nhan đa truân 悠 悠 彼 蒼 兮 誰 造 因 Du du bỉ thương hề, thùy tạo nhân Cung oán ngâm khúc 宮 怨 吟 曲. Tác giả khúc ngâm là Nguyễn Gia Thiều 阮嘉韶 1741 – 1798, sinh trưởng trong một gia đình quý tộc, là cháu ngoại chúa Trịnh Cương 鄭 綱, ? – 1729. Ông học rộng, am hiểu nhiều môn nghệ thuật âm nhạc, hội họa, kiến trúc, trang trí. Cung oán ngâm khúc theo bản in khắc ván năm 1902 dài 356 câu thơ “song thất lục bát”. Khúc ngâm trường thiên này là lời tự bạch nỗi niềm cô đơn chán chường của người cung nữ bị bỏ rơi, đồng thời cũng là lời gửi gắm những suy tư của tác giả về nhân sinh và thế giới. Tác phẩm rất giàu sức biểu cảm có tiếng nói trữ tình từ cảnh ngộ cá nhân của nhân vật trữ tình, vừa có tiếng nói triết lý về kiếp nhân sinh từ những suy tư của tác giả. Với tác phẩm này, thể “song thất lục bát” đã đi đến chỗ hoàn thiện ở mức đỉnh điểm cách luật hoàn toàn chặt chẽ, chuẩn mực, không chấp nhận những ngoại lệ như ở các tác phẩm khác. Ngôn ngữ văn học ở đây được gọt giũa kỹ càng, biện pháp điệp từ sử dụng rất khéo léo, tạo được cảm xúc. 5. TRUYỆN NÔM THỂ TRUYỆN Đây là một thể loại văn học viết theo văn vần, có cốt truyện tức là một loại tiểu thuyết văn vần, rất phát triển ở Việt Nam mà ở Trung Hoa hầu như không có, đặc biệt thịnh hành từ cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX. Có tới hàng trăm tác phẩm thuộc loại này, mà đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Truyện Nôm sử dụng thể thơ “lục bát” là chủ yếu, song cũng có một số ít tác phẩm dùng thể Đường luật. “Truyện Nôm Đường luật” thường dựa theo một cốt truyện đơn giản để viết thành một loạt các bài thơ “thất ngôn bát cú” 七 言 八 句 liên hoàn. Loại này xuất hiện khá sớm, ngay từ thế kỷ XVI, nhưng tác phẩm không nhiều, giá trị văn học không cao. Nay chỉ còn lại 3 tác phẩm là truyện Tô Công phụng sứ 蘇 公 奉 使 傳 , xuất hiện vào thế kỷ XVI, lấy tích Tô Vũ đi sứ nước Hồ, toàn văn gồm 24 bài thơ bát cú luật Đường. Cũng ở thế kỷ XVI có Truyện Vương Tường 王 嬙 傳 [xem dưới], sang thế kỷ XVII có truyện Lâm tuyền kỳ ngộ 林 泉 奇 遇 傳 còn gọi là truyện Bạch Viên Tôn Các 白 猿 孫 恪 傳 gồm 146 bài thơ thất ngôn bát cú và 1 bài tứ tuyệt. Có thể lấy Truyện Vương Tường làm đại diện Truyện Vương Tường 王 祥傳 . Cốt truyện mượn từ tích đời Hán, viết về cuộc đời của Vương Tường tức Vương Chiêu Quân 王 昭 君 được tuyển làm cung nữ dưới thời Hán Nguyên Đế 漢 元 帝, vì không đút lót nên thợ vẽ Mao Diên Thọ 毛 延 壽 vẽ xấu đi, khiến nhà vua không để ý đến. Nhân có vua nuớc Hồ cầu thân, vua Hán liền đem Chiêu Quân gả cho vua Hồ. Đến lúc ấy vua Hán mới biết nàng đẹp, lấy làm tiếc. Sang đến cung vua nước Hồ, nàng tự vẫn. Đây là một truyện tiêu biểu cho loại “Truyện Nôm Đường luật”. Không rõ tác giả là ai. Giới nghiên cứu ước đoán tác phẩm này ra đời khá sớm, vào khoảng đầu thế kỷ XVI. Truyện gồm 49 bài thơ “thất ngôn bát cú”, trong đó có 38 bài chính truyện, 10 bài là lời than tiếc của người đời và 1 bài kết luận. Câu thơ trau chuốt, bút pháp thơ Đường vững vàng. Song có thể là do hạn chế của khuôn khổ thơ cách luật “thất ngôn bát cú”, khó diễn tả liền mạch cốt chuyện, nên kết cấu có phần rời rạc. Đây là nhược điểm chung của loại “Truyện Nôm Đường luật” khiến nó không phát triển và tỏ ra “lép vế” hẳn so với loại “Truyện Nôm lục bát”. “Truyện Nôm lục bát” chỉ dùng thể “lục bát”, đôi khi có thể xen kẽ vài bài thơ Đường luật, hoặc một số câu thất ngôn. Cốt truyện có thể lấy từ lịch sử và văn học Trung Hoa, hoặc lấy từ lịch sử và sự tích dân gian Việt Nam. Số lượng truyện Nôm lục bát rất phong phú, hiện còn hàng trăm tác phẩm, nhiều truyện đạt tới giá trị nghệ thuật cao. Trong số các truyện Nôm lục bát hơn phân nửa tác phẩm không mang tên tác giả thường được gọi là “Truyện Nôm khuyết danh”. Có thể phân các “truyện Nôm lục bát” thành 2 loại như sau Một loại là những truyện mang đậm màu sắc dân gian, kể chuyện bình dị, lời thơ gần với khẩu ngữ , tác giả không rõ là ai, thường được gọi là “Truyện Nôm khuyết danh” hoặc “Truyện Nôm bình dân”. Những truyện loại này hiện còn hơn 100 tác phẩm. Tiêu biểu cho loại này là những tác phẩm như Phạm Tải Ngọc Hoa 範 載 玉 花 , thế kỷ XVIII, gồm 872 câu lục bát; Tống Trân Cúc Hoa 宋 珍 菊 花 [xem dưới]; Phạm Công Cúc Hoa 範 公 菊 花 [xem dưới]; Phương Hoa 芳 花 , thế kỷ XVIII-XIX, theo truyện kể dân gian, gồm 1152 câu lục bát, Thạch Sanh 石 生 , thế kỷ XVIII, theo truyện cổ tích Việt Nam, gồm 1812 câu lục bát, Có thể lấy truyện Tống Trân Cúc Hoa và Phạm Công Cúc Hoa làm đại diện Tống Trân Cúc Hoa 宋 珍 菊 花 là câu chuyện thuần túy Việt Nam, không lấy tích từ Trung Hoa. Tác phẩm kể chuyện đôi trái gái nhà nghèo Tống Trân và Cúc Hoa, vượt qua mọi gian nan thử thách từ phía các thế lực quan lại và quý tộc, bằng tất cả lòng kiên trinh và tài năng của mình, để bảo vệ tình yêu. Trong truyện còn kể chuyến đi sứ của Tống Trân, thể hiện tài năng và lòng tự tôn dân tộc của chàng trong việc bang giao. Mặc dù bị chàng chối từ, nhưng công chúa nước Tàu vì quá yêu chàng, đã vượt bể sang nước Việt tìm chàng. Và Cúc Hoa đã vui lòng để cho chàng cưới thêm công chúa Trung Hoa. Truyện gồm 1690 câu thơ lục bát, xuất hiện vào khoảng từ giữa thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX. Ngôn ngữ văn học trong tác phẩm rất gần với lời ăn tiếng nói của dân gian. Hầu như không dùng điển cố và rất ít từ Hán Việt. Trong truyện nhiều khi mang đậm nét truyện kể truyền miệng, do đó có phần thiếu trau chuốt. Phạm Công Cúc Hoa 範 公 菊 花 kể chuyện ở nước Trịnh nào đó, nhưng tên làng tên đất cùng quang cảnh non nước, cung cách sinh họat đều là thực tế ở Việt Nam. Đây là một truyện Nôm có dung lượng lớn, gồm câu lục bát theo bản in ván khắc năm 1889, có thể là tác phẩm dài hơi nhất trong số các truyện Nôm hiện còn. Phạm Công là trẻ mồ côi, dắt mẹ đi ăn xin, rồi may mắn được con gái quan phủ là Cúc Hoa đem lòng yêu, và được kết duyên vợ chồng. Song vì tài vì mệnh, vì lòng kiên trinh, họ phải chịu lắm nỗi gian nguy, vợ chồng con cái sinh ly tử biệt. Truyện phản ánh những quan hệ vợ chồng, anh em, mẹ ghẻ con chồng rất sâu sắc và cảm động. Đây hầu như là truyện Nôm duy nhất mô tả cảnh âm phủ với những tình tiết cụ thể sinh động theo trí tưởng tượng dân gian trong mối liên tưởng với thực trạng xã hội ở trên dương thế. Một loại khác là những tác phẩm do các văn nhân sáng tác, văn liệu tiếp thu từ văn hiến Trung Hoa, ngữ liệu tận dụng vốn thành ngữ, tục ngữ và ca dao dân gian. Bởi vậy, so với loại “bình dân” ở trên, thì ở loại này ngôn ngữ văn học được trau chuốt hơn, có sức diễn đạt phong phú, đạt tới giá trị nghệ thuật cao hơn. Tiêu biểu cho loại này là Truyện Kiều của Nguyễn Du [xem dưới] . Ngoài ra có thể kể một loạt tác phẩm như Song Tinh Bất Dạ 雙 星 不 夜 của Nguyễn Hữu Hào 阮 有 豪 ? – 1713, lấy cốt truyện từ tiểu thuyết Định tình nhân 定 情 人 ở Trung Hoa, gồm câu; Hoa tiên 花 箋 của Nguyễn Huy Tự 阮 輝 嗣 1743 – 1790, lấy cốt truyện từ Hoa tiên ký 花 箋 記 ở Trung Hoa, gồm câu; Sơ kính tân trang 梳 鏡 新 妝 của Phạm Thái 範 彩 1777 – 1813, là tự truyện về tình duyên trắc trở của tác giả, gồm câu lục bát và một số bài thơ Đường luật; Phan Trần 潘 陳 lấy cốt truyện từ truyện ký Trung Hoa, chưa rõ danh tính tác giả, xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX, gồm 938 câu lục bát; Lý Văn Phức 李 文 馥 1785 – 1849 là tác giả của một số truyện nổi tiếng Tây sương 西 廂 gồm câu lục bát, truyện dựa theo hí khúc Tây sương ký 西 廂 記 của Vương Thực Phủ 王 實 甫thời nhà Nguyên; Nhị độ mai 二 度 梅 gồm câu lục bát, dựa theo tiểu thuyết Trung Hoa Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai 忠 孝 節 義 二 度 梅 ; Ngọc Kiều Lê 玉 翹 黎 , gồm câu lục bát, cũng có thể lấy cốt truyện từ một tiểu thuyết ở Trung Hoa; Nguyễn Đình Chiểu 阮 廷 炤 1822 – 1888 là tác giả của hai truyện Nôm nổi tiếng khác Lục Vân Tiên 陸雲仙 [xem dưới] và Dương Từ Hà Mậu 楊 慈 何 茂 , gồm câu lục bát – một độ dài lớn nhất trong số các truyện Nôm hiện còn. Cả hai truyện đều là sáng tác của nhà thơ, không lấy cốt truyện từ Trung Hoa. Truyện Kiều 翹 傳 là tác phầm chủ yếu của Nguyễn Du 阮 攸 1765 – 1820, nhà đại thi hào dân tộc Việt Nam. Sinh trưởng trong một gia đình danh gia vọng tộc cha làm quan đến Tể tướng, anh làm quan đến Tham tụng, nhưng gặp nhiều trắc trở. Năm 1783 thi Hương đậu Tam trường, sau không thi tiếp nữa. Thuở nhỏ ở Thăng Long, lớn lên gặp thời tao loạn từ khởi nghĩa Tây Sơn đến Nguyễn Ánh khôi phục lại Nhà Nguyễn phải nay đây mai đó, cuối cùng về quê ở Nghệ An, sống gần với dân gian. Có ra làm quan với nhà Nguyễn một thời gian, từng được cử đi sứ nhà Thanh. Nguyễn Du có một sự nghiệp sáng tác văn học đồ sộ, cả bằng chữ Hán và bằng chữ Nôm. Riêng về văn chương chữ Nôm, ngoài Truyện Kiều, ông còn để lại một vài tác phẩm ngắn, mà tiêu biểu là bài Văn tế thập loại chúng sinh 十 類 眾 生 祭 文 , một bài văn chiêu hồn đối với mọi kiếp người đã chết trong bất cứ cảnh ngộ nào, thể hiện lòng thương người bao la của nhà thơ. Truyện Kiều là cách gọi tắt của người đời sau, nguyên tên do tác giả đặt là Đoạn trường tân thanh 斷 腸 新 聲 . Cốt truyện dựa theo tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 của Thanh Tâm Tài Nhân 青 心 才 人 ở Trung Hoa. Nhưng nếu như tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân không gây được chú ý ở Trung Quốc, thì Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du là tác phẩm văn học kiệt xuất, ngay từ khi vừa ra đời khoảng 1804 – 1809 đến nay đã được mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam yêu thích, và được thế giới nhiệt liệt đón nhận, được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Nguyễn Du là người Việt Nam thứ hai thế hệ sau Nguyễn Trãi được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới. Truyện Kiều kể chuyện 15 năm lưu lạc của nhân vật chính là nàng Thúy Kiều 翠 翹 . Thúy Kiều là một tiểu thư xinh đẹp, tài hoa, có tình yêu tự do và trong sáng với chàng thư sinh Kim Trọng 金 重 . Chế độ phong kiến suy tàn với đầy rẫy những thế lực đặc biệt là quan lại liên kết với thương gia đã xô đẩy nàng vào cảnh đời ca kỹ, tôi đòi. Toàn bộ câu chuyện với mọi diễn biến về tình tiết và tâm lý nhân vật làm thành bản cáo trạng đối với những bất công, tàn bạo trong xã hội, là tiếng kêu xé lòng đối với tình yêu và thân phận những con người bị chà đạp, là ước vọng vươn tới giành lại quyền sống cho họ. Tác phẩm thấm đượm tinh thần nhân đạo sâu sắc, với bút pháp hiện thực giàu chất trữ tình. Bản in cũ nhất và còn lại trọn vẹn cho đến nay là bản Liễu Văn Đường 1871 và bản Duy Minh Thị 1872. Truyện Kiều là tác phẩm truyện Nôm có độ dài lớn, gồm câu thơ, theo thể “lục bát”. Đây là tác phẩm thành công và tiêu biểu về nhiều phương diện, là đỉnh cao của văn học Việt Nam thời Trung đại. Riêng về mặt ngôn ngữ thơ, tác giả đã rất nhuần nhuyễn trong việc sử dụng văn liệu Trung Hoa kết hợp với ngữ liệu dân gian Việt Nam. Tiếng Việt trong Truyện Kiều đánh dấu cho trình độ tinh luyện, chuẩn mực và giàu sức biểu hiện. Đây là tác phẩm truyện thơ Nôm trường thiên mà trong đó thể thơ “lục bát” đạt tới mức điển phạm, chuẩn mực, không chấp nhận bất cứ những gì thô sơ, vụng về, phá cách như trong các truyện Nôm khác. Để minh họa, xin trích hai khổ đầu 4 câu từ văn bản Truyện Kiều khắc in năm 1871 炧 璏 瑉 憥 圡 些 Trăm năm trong cõi người ta 岲 才 岲 命 窖 卥 唙饒 Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau 惐 戈 沒 局 帀 盙 Trải qua một cuộc bể dâu 仍 調 饢 獕 乑 僘 妿 峼 Những điều trông thấy đã đau đớn lòng Lục Vân Tiên 陸雲 仙 là tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu 阮 廷 炤 1822 – 1888. Ông nguyên quán tỉnh Thừa Thiên, sinh tại Gia Định nay thuộc Tp Hồ Chí Minh, mất tại Bến Tre. Đỗ Tú tài 1843 tại trường thi Gia Định, sau ra Huế chờ kỳ thi năm Kỷ Dậu 1849, nhưng chưa thi thì được tin mẹ mất, ông vội về Gia Định chịu tang, trên đường vì thương khóc nhiều, ông bị mù cả hai mắt. Truyện Lục Vân Tiên ra đời sau đó ít lâu, và mau chóng được độc giả yêu thích, nhất là trong dân chúng Nam Bộ. Tác phẩm này có rất nhiều bản viết tay và bản in khác nhau. Riêng bằng chữ Nôm hiện có tất cả 7 bản, trong đó bản Lục Vân Tiên truyện 蓼 雲 仙 傳 do Duy Minh Thị cho khắc ván in tại Gia Định năm Giáp Tuất 1874 là bản xưa nhất còn lại. Theo bản này thì toàn văn gồm có 2176 câu lục bát và 1 bài “thất ngôn bát cú” chữ Hán. Lục Vân Tiên, nhân vật chính trong truyện là một chàng trai trí dũng song toàn, đề cao trung hiếu tiết nghĩa. Trải qua bao gian nan thử thách, chàng đã được hưởng hạnh phúc cùng người yêu chung thủy là Kiều Nguyệt Nga. Hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện trong truyện luôn luôn đối kháng rạch ròi, và cuối cùng những người chính nhân quân tử giúp dân cứu nước phải hoàn toàn chiến thắng, trường trị kẻ gian manh độc ác, lừa thầy phản bạn. Có thể coi Lục Vân Tiên là một bản trường ca đề cao chính nghĩa và những đạo đức đáng quý đáng trọng trong đời sống người dân Việt Nam. Mặc dù là một nhà Nho, nhưng ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Đình Chiểu đậm màu sắc dân gian, lời thơ gần với giọng điệu nói và kể, rất bình dị và chất phác. 6. PHÚ NÔM và VĂN TẾ NÔM Trong văn học Việt Nam cũng như ở Trung Hoa, phú 賦 là một thể văn có từ rất rất sớm, có phú chữ Hán và phú chữ Nôm. Phú chữ Nôm có thể bắt đầu từ thời Trần thế kỷ XIII, như hai bài phú đã nhắc đến ở trên của vua Trần Nhân Tông và sư Huyền Quang. Nội dung của phú Nôm thường ca ngợi cảnh sắc non sông, xưng tụng công tích anh hùng, hoặc phê phán trào lộng, nghị luận sự tích, nhân vật. Những tác phẩm và tác gia nổi tiếng về phú Nôm có thể kể Phụng thành xuân sắc phú 鳳 城 春 色 賦 của Nguyễn Giản Thanh 阮 簡 青 1482 – ?, Tịch cư ninh thể phú 僻 居 寧 體 賦 và Đại Đồng phong cảnh phú 大 同 風 景 賦 của Nguyễn Hàng 阮 杭 thế kỷ XVI, Ngã Ba Hạc phú 我 巴 鶴 賦 của Nguyễn Bá Lân 阮 伯 燐 1701 – 1785, Trương Lưu hầu phú 張 留 侯 賦 , Quách Tử Nghi phú 郭 子 儀 賦 của Nguyễn Hữu Chỉnh 阮 有 整 ? – 1787, Tụng Tây Hồ phú 訟 西 湖 賦 của Nguyễn Huy Lượng 阮 輝 涼 ? – 1808, Chiến tụng Tây Hồ phú 戰 訟 西 湖 賦 của Phạm Thái 範 彩 1777 – 1813, Hàn nho phong vị phú 寒 儒 風 味 賦 của Nguyễn Công Trứ 阮 公 著 1778 – 1858, Tài tử đa cùng phú 才 子 多 窮 賦 của Cao Bá Quát 高 伯 适 1808 – 1885, Văn tế 祭 文 chữ Nôm với tư cách là những tác phẩm văn học còn lại với thời gian thường không chỉ mang chức năng nghi lễ tín ngưỡng, mà đó là những tác phẩm chứa chan tình cảm với những người đã khuất, những người thân thiết của tác giả hoặc những anh hùng liệt sĩ, những người có số phận bất hạnh trong xã hội. Văn tế được viết bằng nhiều thể thức khác nhau, có thể là văn biền ngẫu, có thể là song thất lục bát. Song phần lớn là những bài văn tế viết theo thể phú. Có nhiều bài văn tế Nôm nổi tiếng của các tác giả như Văn tế chị 祭 姊文 của Nguyễn Hữu Chỉnh ? – 1787, Văn tế thập loại chúng sinh 十 類 眾 生 祭 文 của Nguyễn Du 1765 – 1820, Văn tế Trương Quỳnh Như 祭 張 瓊 茹 文 của Phạm Thái 1777 – 1813, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc 芹 勺 義 士 祭 文 của Nguyễn Đình Chiểu 阮 廷 炤 1822 – 1888 7. THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT Văn nhân người Việt làm quen với cách luật thơ Đường từ rất sớm. Bước đầu thử mô phong thể thơ này để làm thơ tiếng Việt, các nhà thơ đã không theo sát thể thức Đường luật như khi làm thơ chữ Hán, mà có cải biến ít nhiều, tạo thành lối thơ Việt hóa “Hàn luật”. Lối thơ Đường luật Việt hóa này đã không được các thế hệ thi nhân đời sau kế thừa và phát huy. Từ thế kỷ XVII trở đi văn đàn Việt Nam hầu như vắng bóng các bài thơ Nôm “phá cách” như vậy trừ một số bài tương truyền là của Hồ Xuân Hương, mang sắc thái trào phúng theo lối dân gian, thay vào đó là những bài thơ chữ Nôm tuân thủ nghiêm chỉnh cách luật thơ Đường. Có thể nói rằng các nhà thơ Việt Nam thời trung đại ai cũng từng làm thơ Đường luật, chữ Hán và cả chữ Nôm. Tuy nhiên, không phải tác giả nào cũng thực sự thành công. Các nhà thơ để lại ấn tượng rõ nét nhất về thơ Nôm Đường luật là Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương [xem dưới]. Ngoài ra còn phải kể đến Bà Huyện Thanh Quan 婆 縣 清 觀 tên thực là Nguyễn Thị Hinh 阮 氏 馨 , đầu thế kỷ XIX với chùm bài thơ mang nặng tâm trạng hoài cổ; Mạc Thiên Tích 莫天 錫 1706 – 1780 với tập Hà Tiên quốc âm thập vịnh 河 仙 國 音 十 詠 ; Phan Văn Trị 潘 文 治 1830 – 1910 với nhiều bài thơ vịnh vật vịnh cảnh và 10 bài thơ họa chế giễu bọn văn nhân cam tâm theo giặc. Hồ Xuân Hương 胡 春 香 cuối XVIII đầu XIX. Cho đến nay, giới nghiên cứu vẫn chưa biết chính xác năm sinh năm mất cùng thời gian sáng tác của bà, cũng như chưa xác định được rõ toàn bộ tác phẩm của bà. Bà nổi tiếng là “bà chúa thơ Nôm”, với khoảng hơn 50 bài thơ Nôm luật Đường, được sưu tập và chép lại vào năm 1893. Trong số đó có lẫn một số bài của người khác. Gần đây phát hiện tập Lưu hương ký 留 香 記 , trong đó có 24 bài thơ chữ Hán và 26 bài thơ chữ Nôm, ngờ rằng đó là thơ của Hồ Xuân Hương, song cũng chưa thật chắc chắn. Thơ Nôm Hồ Xuân Hương nói về những cảnh ngộ riêng tư của người phụ nữ, những nỗi khổ và bất công mà họ phải hứng chịu làm vợ lẽ, chửa hoang, góa chồng. Nhưng thái độ của bà là không kêu than, không bi lụy, mà với đầy đủ ý thức về giới tính, bà khuyên chị em hãy ngẩng cao đầu làm người, đòi lại quyền bình đ?
văn học chữ hán và chữ nôm